1. Những trở ngại
Nhiều tác giả đă lên tiếng nhận xét, phê b́nh, cũng có người đă chỉ trích
việc dùng danh xưng cha v́ những lư do như sau:
1.1 Không
có nền tảng Thánh Kinh: Thánh Kinh không có chỗ nào ghi lại Chúa Giêsu đă
xưng ḿnh là cha.
Ngược lại, Phúc Âm ghi rơ lời dạy của Chúa Giêsu: "Anh em cũng đừng gọi ai ở
dưới đất này là cha của
anh em, v́ anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời" (Mt 23,9).
1.2 Không
có nguồn gốc truyền thống: Trong lịch sử Giáo Hội, trong 10 thế kỷ đầu đă
không có lối xưng hô này [1]. Trong lịch sử Giáo Hội tại Việt Nam danh xưng
"cha"
mới xuất hiện từ năm 1924 - khi uy quyền Giáo Hội được tăng cao trong xă hội
[2].
1.3 Không
phù hợp phong tục, văn hóa Việt Nam:
3.1) Người Việt chỉ quen gọi bố đẻ của ḿnh là cha mà thôi, gọi người không
có liên hệ máu mủ bằng cha là một việc rất khó.
3.2) Linh mục xưng cha hô con với người cao tuổi hơn ḿnh th́ trái tục lệ "xưng phải hạ, hô phải thăng" của người Việt.
1.4 Danh
xưng này mang lại nhiều hệ quả xấu:
4.1) Cho
bản thân linh mục: Lối xưng hô kiểu này "phần nhiều chỉ gây hại và (ít
nhiều) sẽ tạo thêm khó khăn cho người tu sĩ có tâm hồn hướng thượng một cách
đúng đắn", "trực tiếp góp phần vun bồi cái tôi mỗi ngày một thêm ph́nh
to và kềnh càng hơn", "góp
phần tạo ra các ảo tưởng về sự thánh thiện của bản thân", "tính ḥa đồng
không đẳng cấp thuở ban đầu kia sẽ bị thương tổn nghiêm trọng" [3].
4.2) Cho
gia đ́nh linh mục: Khó ăn nói khi giao tiếp với người trong gia đ́nh
(huyết tộc, cao tuổi).
4.3) Cho
sự hợp thông trong Giáo Hội: Trở thành tác nhân của "hội chứng quyền
lực" [4], khiến cho "không
biết bao nhiêu người tự tôn, tự tác lên mặt, la mắng, chỉ tay năm ngón...
làm chia rẽ giáo xứ, giáo phận, giáo hội" [5].
4.4) Cho
việc phụng vụ của Giáo Hội: "Cùng
một thánh lễ, từ 'Cha' vừa để gọi Thiên Chúa Cha (đặc biệt trong phần phụng
vụ Thánh Thể), vừa để gọi một thụ tạo của Ngài như linh mục chủ tế, th́
chẳng những không phù hợp, mà e rằng c̣n là một hành vi phạm thượng đối với
Thiên Chúa Cha" [6].
4.5) Cho bổn phận truyền giáo của Giáo Hội: Không thuận tiện
1.5 Nhiều
linh mục cũng không đồng ư với danh xưng này: Lm. Cao Vĩnh Phan [7], Lm.
Nguyễn Thanh nhắc đến Lm. Nguyễn Thế Thuấn [8], tác giả Trần Hữu Hiệp nhắc
đến ĐHY GB. Phạm Minh Mẫn và Lm. Gérard Roland [9], c̣n tác giả Xuân Thái
th́ dẫn chứng ĐTC Gioan Phaolô II [10]...
Do đó, một số tác giả cho rằng: "Lối
xưng hô này chỉ là quy ước, xuất phát từ một giai đoạn lịch sử đặc thù. Nay
thời thế đă đổi, tâm lư con người cũng khác, lối xưng hô này cũng nên được
xét lại" (Vơ Lư). "Ở đấy, bấy giờ th́ rất phù hợp. Nhưng ở đây, bây giờ mà
c̣n như thế, th́ rất cần phải xem lại, về nhiều mặt" (Xuân Thái).
2. Những ư kiến bênh vực.
Đă có nhiều bài viết gián tiếp hay trực tiếp giải thích về các vấn nạn nêu
ra trên đây, trong phạm vi bài này tôi xin được tóm lược các ư chính như
sau:
2.1. Nền
tảng Thánh Kinh [11]: "Đừng gọi ai dưới đất này là cha": Mệnh lệnh này xem
ra phản đối thói quen gán cho một vài vị hướng dẫn cộng đoàn tước hiệu Abba (cha)
cũng trong một ư nghĩa danh dự và xă hội như tước hiệu Rabbi (thày).
Rơ ràng là nó không nhắm đến người
cha trong gia đ́nh theo nghĩa
đen (x.Mt 15,4-6;19,19 [12]). Mệnh lệnh này lại càng không chống đối cái truyền
thống kỳ cựu có nơi mọi dân tộc và trong Thánh Kinh, theo đó giữa các
thầy và tṛ phải thiết lập mối liên hệ tương tự mối liên hệ giữa cha và con,
khiến họ thường gọi nhau là "cha" và "con" (x. 2V 2,12; Cn 4,1; 1Cr 4,14-17,
Gl 4,19; 2Tm 1,2; Tt 1,4; 1Pr 5,13; 1Ga 2,1.12.14...). Nên lưu ư là ở đây
cũng vậy, các câu 8-12 không nhấn mạnh đến sự phủ nhận mọi quyền bính Giáo
Hội cho bằng là (nhấn mạnh) đến mối nguy tạo nên do những "đại nhân vật"
chiếm hết danh dự dành cho Thiên Chúa và Đức Kitô. Cha Nil Guillemet giải
thích: “Tin Mừng đôi lúc không mấy lưu tâm gọt dũa các góc cạnh gồ ghề của
một câu văn tŕnh bày một quan điểm phiến diện. Trong những trường hợp ấy,
lời xác quyết quá tuyệt đối của nó cần được đối chiếu với những xác ngôn
khác không kém triệt để mà nó lại đưa ra theo chiều hướng trái ngược; chung
chung, các câu ấy, thay v́ nói nghịch nhau, chỉ bổ túc nhau, và thế quân
b́nh được tái lập. Nói tóm lại, không nên coi đoạn này như một lời thực sự
và đơn giản thành một giáo thuyết của biệt phái, th́ cũng chẳng nên nghĩ
rằng việc bài bác một vài giáo huấn của các tiến sĩ luật có nghĩa là việc
phế bỏ quyền bính giảng dạy của họ” [13]. Thầy(Rabbi):
Kitô hữu chỉ có duy nhất một vị thầy. Theo nghĩa là họ là môn đệ suốt đời
của một ḿnh Đức Kitô mà thôi. Những người thầy khác có vai tṛ tạm thời (mà
thôi).
2.2. Nguồn
gốc truyền thống: Saul ben Batnith (khoảng 80-120) là nhà hiền triết Do Thái
đầu tiên được người ta gọi là Abba (cha)
[14]. Trong các tiến sĩ Israel của 4 thế kỷ đầu, hơn 50 vị được mang tước
hiệu Abba.
Mặc dù đă có lệnh cấm, nhưng danh xưng này đă lẻn vào Kitô giáo qua phong
trào đan viện bên Ai Cập, danh xưng này lúc đầu dùng như một thuật từ chỉ vị
linh hướng trong các đan viện (Abbot). Thuật từ này cũng được dùng trong bản
Qui Luật của thánh Bênêđictô để chỉ các vị đứng đầu các tu viện [15].
- Bên Âu châu, từ Father (cha)
nguyên là danh xưng của các tu sĩ hành khất (Ḍng Phanxicô). Trong các nước
nói tiếng Anh và Bồ Đào Nha th́ từ này dùng để xưng hô hoặc nói về các linh
mục triều, tại Anh thói quen gọi các linh mục là cha có từ năm 1879, trước
đó các linh mục triều được gọi là "ông" (Mr.) và "ngài" (sir) như vẫn thấy
c̣n sử dụng ở Ushaw (1950). Trong các quốc gia Công giáo, linh mục triều
được gọi là Monsieur
l'abbé, monsieur le curé, hoặc
có nơi gọi là signor,
don (như "thầy" Dom) vv...
Các linh mục trong Giáo Hội Đông Phương đều được gọi là "cha" (Father) [16].
Dần dần, trong các thể chế Kitô giáo, người ta đă dùng khá nhiều tước vị cha
dưới nhiều h́nh thức: Thượng
phụ, Tổ phụ (Patriarch), Tông phụ (Apostolic
Fathers), Giáo
phụ (Father
of Church), Viện
phụ (Abbot, Abbé), Đức
thánh cha (Pope), Nghị
phụ vv...) theo nghĩa linh
tông ấy. Điều này chẳng phải là đi ngược lại Tin Mừng, v́ cái quan trọng là
tinh thần chứ không phải là chữ viết.
- Bên Trung Quốc, Nhật cũng như Hàn Quốc có một danh xưng là: thần
phụ (神父)
nghĩa là cha tinh thần, cha thiêng liêng. Khi xưng như vậy, không những phân
biệt được cách gọi bố đẻ của ḿnh, mà c̣n nói lên tính cách và nhiệm vụ của
vị linh mục, đồng thời không gây thắc mắc cho người ngoài Công Giáo khi phải
đối thoại với một vị linh mục.
- Tại Việt Nam, những năm đầu truyền giáo, các thừa sai ngần ngại không biết
xưng ḿnh với anh chị em bổn đạo thế nào cho phải. Sau cùng, các ông xưng là
"thầy",
cũng có nghĩa như sư (bên Phật giáo), nhưng lại hay ở chỗ đó là tiếng Việt
hoàn toàn, mà vẫn nằm trong bộ tam "quân-sư-phụ" rất thích hợp với cơ cấu xă
hội Nho giáo Việt Nam lúc đó. Từ 1630 trở đi, v́ có các thầy giảng, nên gọi
các thừa sai là "thầy
cả" tức là "thầy lớn hơn các thầy (giảng)" [17]. Cũng có nơi dùng những
danh xưng như: sacêđotê (TBN: sacerdote), phatêrê (L. frater), cụ, ông cụ,
(cụ chính, cụ tuỳ), pe (P: père), cố, cố đạo, đạo trưởng, thày đạc đức...
Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 bắt đầu xuất hiện danh xưng "cha"
[18] dịch từ chữ père bên tiếng Pháp.
2.3. Phong
tục, văn hóa Việt Nam:
- Đối
với những người ngoài Công Giáo: Đại Từ Điển Tiếng Việt giải thích chữ
cha có 2 nghĩa: (1)Người
đàn ông có con, trong quan hệ với con; (2) Linh
mục, trong quan hệ với người theo đạo Thiên Chúa [19].
Như vậy, xă hội Việt Nam hiểu rằng từ "cha" dùng để xưng hô với linh mục
trong quan hệ "nội bộ" của người Công Giáo. Do đó, không thể đặt vấn đề
cha-con với người ngoài Công Giáo. Nghĩa là, trong giao tiếp với người ngoại
Đạo, linh mục sẽ xưng hô theo phong tục tập quán của xă hội dân sự b́nh
thường.
- Đối
với những người trong gia đ́nh: "Linh mục, Giám mục hay bất cứ chức sắc
nào đi nữa, th́ cũng đến từ một gia đ́nh. Trong gia đ́nh ấy có đủ cha mẹ,
anh em họ hàng như những người khác và cũng tôn ti trật tự, lễ giáo giống
như những gia đ́nh khác. Do đó, trong gia đ́nh, một linh mục vẫn là một
người con với những người thân sinh ra ḿnh và là anh em với anh em ḿnh.
Một linh mục thường "giảng" cho người khác giữ ǵn lễ giáo gia phong, th́
chính linh mục ấy là người làm chứng cho lời ḿnh giảng bằng chính đời sống
ḿnh. Tóm lại, trong gia đ́nh, cha mẹ không gọi người con làm linh mục là
cha và không xưng là con". "Một người có con làm linh mục, có nghĩa là người
con linh mục ấy là con của ḿnh. Mọi người gọi con ḿnh là cha rồi xưng con,
không có nghĩa là mọi người đều là cháu ḿnh. Tương tự như thế, nếu người bố
mẹ của ông cha ấy có đủ khiêm nhường để sống và xưng hô như những người khác
với các linh mục khác là điều đáng quí, c̣n nếu không cũng chẳng sao, chỉ tỏ
ra việc bố mẹ của ông cha ấy thiếu khiêm nhường chút, thế thôi. Một người có
con làm linh mục, không có nghĩa là tất cả các linh mục khác đều là con của
ḿnh".
- "Đối với
các linh mục trạc tuổi nhau, trước khi chịu chức linh mục, các linh mục
đă học chung, sống chung với nhau nhiều năm nơi ghế nhà trường. Lúc ấy là
thiếu niên, thanh niên nên thường xưng hô với nhau như các thanh thiếu niên
khác... Sau khi trở thành linh mục, t́nh thân ngày trước vẫn c̣n, nên trong
lúc riêng tư, vẫn tự nhiên và thân thiện như ngày xưa thân ái. Tuy nhiên,
khi hiện diện trước đám đông hay các buổi lễ lạc, các linh mục vẫn thường
xưng hô theo mọi người, có nghĩa là gọi nhau là cha và xưng là con" [20].
2.4. Danh
xưng này mang lại nhiều hệ quả xấu?
Đặt vấn đề có nên gọi linh mục là cha, theo tôi, chính là đặt vấn đề căn
tính linh mục. Bài viết của Cha John Cihak có tựa đề là "Linh mục trong tư
cách là người nam, người chồng và người cha" [21] đăng trên trang mạng
Ignatius Insight ngày 26/3/2007 thực đáng cho chúng ta suy nghĩ:
- Linh
mục như là người chồng nhờ
tham dự vào tương quan phu phụ của Đức Kitô với Hiền Thê của Người là Giáo
Hội [22].
- Linh
mục như là người cha: Nam tính của linh mục và tương quan phu phụ với Hội
Thánh làm cho linh mục thành người cha. Một t́nh yêu chân thực luôn phát
sinh sự sống, và trong trường hợp của linh mục th́ chính là đời sống thiêng
liêng và vĩnh cửu.
T́nh yêu phu
phụ của linh mục nhất thiết là phải sản sinh. V́ thế, linh mục của Đức
Giêsu, không phải là một công chức, một tay làm thuê, một giám đốc điều
hành, hay một kẻ hám danh, nhưng là một người cha.
Chúng ta
quen gọi các linh mục là "cha." Tuy nhiên đó không phải là danh xưng mang
tính ẩn dụ hay màu sắc thi ca. Tư cách cha của linh mục là thật v́ nó là sự
tham dự vào tư cách Cha thần linh (1 Cr 4,15; Ep 3,15). V́ thế, tư cách cha
của linh mục được thiết lập bởi tư cách làm Cha của Chúa Cha trên trời mang
tính tổng thể, hoàn tất việc tự hiến.
Và nếu tư cách cha của linh mục là thật, th́ tôi nghĩ có thể thực hành như
lời thánh Phaolô đă dạy Titô:
"Phần anh,
hăy dạy những ǵ phù hợp với giáo lư lành mạnh. Hăy khuyên các cụ ông phải
tiết độ, đàng hoàng, chừng mực, vững mạnh trong đức tin, đức mến và đức nhẫn
nại. Các cụ bà cũng vậy, phải ăn ở sao cho xứng là người thánh, không nói
xấu, không rượu chè say sưa, nhưng biết dạy bảo điều lành. Đó là những điều
anh phải nói, phải khuyên, phải sửa dạy với tất cả uy quyền. Chớ ǵ đừng có
ai coi thường anh" (Ti 2,1-3.15).
Hay nói như Đức Giáo Tông Gioan Phaolô II khi trả lời kư giả Vittorio:
"Những từ ngữ này được xây dựng trên một truyền thống lâu đời và đă đi vào
trong ngôn ngữ thường dùng, và ngay cả những từ ngữ này ta cũng đừng sợ"
[23].
Một cha giáo kể chuyện rằng Đức Giáo Tông Piô XII có thói quen xưng tội mỗi
ngày. Tối đến, khi cha giải tội bước vào pḥng của Đức Giáo Tông th́ ngài
liền quỳ xuống hôn nhẫn của Đức Giáo Tông, rồi đến phiên Đức Giáo Tông làm
dấu thánh giá và quỳ xuống để xưng tội.
Người ta nói: "Chiếc áo không làm nên thầy tu". Nhiều linh mục thường xuyên
mặc ‘soutane’, nhưng cũng có linh mục khác cả năm chưa mặc ‘soutane’ một
lần, tuỳ ư nghĩa biểu tượng được gán cho chiếc ‘soutane’. Khi nói chuyện với
một người lớn tuổi hơn ḿnh mà xưng hô cha con, chúng tôi (các linh mục)
cũng ngại lắm. Nhưng cũng là một dịp cho chúng tôi suy nghĩ về những ân huệ
Chúa ban cách riêng cho ḿnh (sự kính trọng của mọi người?) để từ đó, khiêm
nhường hơn và tích cực hơn trong việc tông đồ và mục vụ.
2.5. Việc
một số linh mục không muốn dùng danh xưng cha:
"Quí linh mục nào không thích được gọi bằng “cha” th́ cứ tự do bảo người ta
gọi ḿnh cách nào tùy thích, nhưng xin đừng nói là không có giáo lư và
truyền thống của Giáo Hội về việc này, nhất là đừng trưng câu Phúc Âm Mt
23,8-9 ra để biện minh cho việc đả phá danh xưng này" [24].
Lm. Stêphanô Huỳnh Trụ